Cách “dọn bữa” cho cây cao su trong mùa mưa Tây Nguyên

Cơ thể con người ta trở thành từ những cái chúng ta ăn vào hàng ngày. Cây cao su cũng tương tự vậy! Đất trồng cao su Tây Nguyên qua hàng trăm năm khai thác, nhiều nơi đã trở nên nghèo dinh dưỡng, đất chua và bạc màu. Để có cây khoẻ, cho mủ nhiều và ổn định, gia chủ cần cải thiện “bữa ăn” cho chúng bằng loại phân bón đủ bù khuyết dinh dưỡng, đồng thời bồi bổ đất lâu dài.

Để có được “một mũi tên bắn trúng hai đích” ấy, theo kỹ sư Nguyễn Xuân Thự (nguyên cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thái Bình, chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm hướng dẫn sử dụng phân bón cho cây công nghiệp), nhà nông cần hiểu rất rõ về 3 thứ: (1) chất đất, (2) nhu cầu của cây và (3) nguồn dinh dưỡng bổ sung tốt nhất cho cả cây và đất. Cả ba thứ này cần điều chỉnh theo bối cảnh của thời tiết, khí hậu, đặc biệt là vào mùa mưa Tây Nguyên.

Đa số người trồng cao su ở Tây Nguyên đã tin dùng các sản phẩm phân bón Văn Điển trong hàng chục năm qua. Ảnh minh họa. Tư liệu.

“Chuyện trăm năm ân tình cây và đất”

Tây Nguyên có hơn 260.000ha cao su chiếm gần 2/3 diện tích cao su cả nước. Tỉnh Gia Lai có diện tích nhiều nhất với gần 105.000ha, sau đó đến tỉnh Kon Tum. Cao su ở Tây Nguyên được trồng chủ yếu trên đất đỏ bazan hoặc đất xám, có tầng đất dày hàng mét nhưng nghèo dinh dưỡng, phụ thuộc hoàn toàn nước trời. Độ màu mỡ của đất kém, độ chua tầng đất mặt pH < 4,0. Đất nghèo đến rất nghèo hàm lượng lân, kali dễ tiêu, nghèo các chất trung lượng như vôi (CaO); Magie (MgO); Silic (SiO2); cùng các chất vi lượng điển hình là bo (B); kẽm (Zn). Riêng đạm (N), một số vùng đất có hàm lượng đạm tổng số % từ trung bình đến nghèo.

Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, thời gian sinh trưởng phát triển đến 60-70 năm, nhưng thời gian khai thác dưới 30 năm (cho năng suất mủ cao nhất). Cao su có bộ rễ hoàn chỉnh gồm rễ cọc ăn sâu hàng mét hút nước, dự trữ nước cho cây vào mùa khô, giữ cho thân cây không ngã đổ. Rễ bên mọc từ các nhánh của rễ cọc phần gần mặt đất, rễ bén hút nước, dinh dưỡng và cũng rễ cọc giúp cho cây đứng vững. Rễ tơ (rễ cám) mọc từ rễ bên, lan rộng theo hình chiếu của tán lá. Nhiệm vụ chính của rễ tơ là hút dinh dưỡng, hút nước, rễ tơ cũng có thể ăn nổi trên mặt đất khi đất đủ ẩm và thời tiết mát mẻ hay khi có mưa.

Ở Tây Nguyên có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa, rễ tơ phát triển mạnh nhất để hấp thụ dinh dưỡng, cây cao su có 2 giai đoạn sinh trưởng phát triển:

– Giai đoạn kiến thiết cơ bản (trồng mới). Giai đoạn này kéo dài từ sau trồng đến hết năm thứ 6, thời kỳ này cây chủ yếu phát triển thân, cành, tán lá,  nhu cầu dinh dưỡng đa lượng chủ yếu là đạm (N), lân (P2O5) kali và các nguyên tố vi lượng nhu cầu ít.

-Nhưng đến giai đoạn kinh doanh (từ năm thứ 7 trở đi) cây cao su tiếp tục phát triển thân, cành, lá đồng thời tích lũy sinh sản mủ nên cần rất nhiều dinh dưỡng. Theo các công trình nghiên cứu cho thấy: Để cho 3 tấn mủ/ha/năm, cây cao su lấy từ đất: 18,9kg N, 3,8kg P2O5; 12,9kg K2O; 5,4kg CaO, 2,5kg MgO; 0,6kg lưu huỳnh (S); cùng các chất vi lượng: 0,5kg B; 0,4kg Zn; 0,1kg mangan (Mn); 0,1kg đồng (Cu); 0,4kg sắt (Fe)…

Hai sản phẩm phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển mà chuyên gia khuyên dùng cho cây cao su trong mùa mưa. Ảnh tư liệu.

Cây cao su thích “ăn” những dinh dưỡng gì?

Trao đổi với phóng viên Nông Thôn Mới, kỹ sư Nguyễn Xuân Thự cho biết: Đất trồng cao su là kho dự trữ các loại chất dinh dưỡng cho cây, đồng thời là môi trường trung gian để đưa các chất dinh dưỡng vào cây. Tuy nhiên các chân đất trồng cao su thường là nghèo màu, nghèo mùn. Vì vậy, để đạt sản lượng cao và chất lượng tốt phải bổ sung dinh dưỡng cho cây thông qua con đường phân bón. Do hiểu biết còn hạn chế, nhiều nơi bà con nông dân thường sử dụng phân đơn như: Urê,  đạm SA, Supe lân… bón cho cây cao su hoặc dùng các loại NPK thông thường chỉ có 3 loại chất là N-P-K. Bón như vậy cao su vẫn chưa đầy đủ dinh dưỡng, vì thiếu hẳn các chất dinh dưỡng trung lượng như: CaO; MgO; SiO2; S và các loại dinh dưỡng vi lượng: B, Zn, Mn, Fe… Nếu thiếu dinh dưỡng, cây yếu, dễ nhiễm sâu bệnh, năng suất mủ thấp, chất lượng mủ không cao, thời gian khai thác mủ ngắn.

Từ thực trạng sản xuất cao su Tây Nguyên, đầu năm 2000, Công ty Cổ phần Phân lân nung chảy Văn Điển phối hợp cùng Hội Nông dân các tỉnh Gia Lai, Kom Tum thực nghiệm bón phân Văn Điển cho cây cao su thời kỳ kinh doanh (cao su 10 năm tuổi). Quá trình này đã cho kết quả khả quan: Năng suất mủ tăng 1,6 lần so với cây cao su đối chứng (bón phân đơn). Sau khi tổng kết thực nghiệm ở tất cả các địa phương, bà con trồng cao su đều khẳng định: Phân lân nung chảy Văn Điển có hiệu lực, hiệu quả rất cao trên đất Tây Nguyên.

Bằng các cuộc hội thảo, tham quan đầu bờ, mô hình sử dụng phân Văn Điển cho cây cao su đã lan tỏa nhiều địa phương. Theo điều tra của Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên, tỉnh Gia Lai có 67,5% số nhà vườn cao su sử dụng phân bón Văn Điển. Tỷ lệ này ở tỉnh Kon Tum là 59%. Cùng với phân lân Văn Điển, các loại phân đa yếu tố (ĐYT) NPN Văn Điển cũng được sử dụng có hiệu quả vượt trội hơn so với các loại NPK thông thường.

Các loại phân bón Văn Điển sử dụng cho cây cao su ở Tây Nguyên

+ Phân lân nung chảy Văn Điển: Phân lân nung chảy Văn Điển thường có 2 dạng: Dạng bột mịn và dạng hạt kích cỡ 1,0-2,0mm. Thường bà con ưa dùng dạng bột mịn có màu xám xanh, không tan trong nước mà tan hoàn toàn trong dịch chua của rễ cây tiết ra khi hấp thụ. Lân Văn Điển có độ pH = 8, sản xuất hoàn toàn từ khoáng tự nhiên, có thành phần dinh dưỡng dễ tiêu: P2O5 = 16%; CaO = 30%; MgO = 15%; SiO2 = 24%; B = 0,2%; Zn = 0,4%; Fe = 0,4%; Mn = 0,04%; Cu = 0,02%… Bón phân lân nung chảy, nhà nông đã cung cấp 10 loại dinh dưỡng gồm đa lượng: Lân (P2O5), trung lượng: CaO, MgO, SiO2 và vi lượng B, Zn, Fe, Mn, Cu… Cứ bón 100kg lân nung chảy Văn Điển thì có tới 98% chất dinh dưỡng được cây cao su sử dụng. Do không tan trong nước nên lân nung chảy Văn Điển không bị rửa trôi, như của để dành cho cây ăn dần, tốt bền, khử chua tốt cho đất, tăng độ tơi xốp giúp cho rễ tơ phát triển mạnh.

+ Phân đa yếu tố (ĐYT) NPK Văn Điển.

ĐYT NPK 12.8.12: Dạng viên có màu ghi sẫm, tan trong nước, thành phần dinh dưỡng: N = 12%; P2O5­ = 8%; K2O12%; CaO = 8%; MgO = 6%; SiO2 = 9%; S = 6% và các chất vi lượng: B, Zn, Fe, Mn, Cu… Tổng dinh dưỡng cây sử dụng được 61%.

ĐYT NPK 16.5.17: Ba màu, tan trong nước, thành phần dinh dưỡng: N=16%; P2O=5%; K2O=17%; CaO=8%; MgO=5%; SiO2=7%; S=2% và các chất vi lượng: B, Zn, Fe, Mn, Cu… Tổng dinh dưỡng cây sử dụng trên 61%.

Kỹ thuật chăm bón cây cao su trong mùa mưa

Mùa mưa ở Tây Nguyên thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến tháng 11, riêng các tỉnh Gia Lai, Kon Tum mùa mưa đến muộn hơn các tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng khoảng 10 – 15 ngày. Do có mưa, độ ẩm đất, không khí cao, bộ rễ tơ của cây cao su phát triển mạnh và hấp thụ nhiều dinh dưỡng. Đây là quãng thời gian phát triển mạnh thân, cành, tán, lá với cao su trồng mới, riêng cao su kinh doanh còn tích lũy mủ ở vỏ thân. Do vậy cao su kinh doanh cần được bón nhiều phân hơn và kết cấu thành phần dinh dưỡng trong các loại phân cũng khác nhau.

Theo nghiên cứu và thực tiễn đã tổng kết, với cây cao su trồng mới, cần nhiều lân hơn để phát triển bộ rễ, các chất đa lượng N – P – K thường là (2 : 1: 0,2), trong khi nhu cầu các chất vi lượng cần ít trong giai đoạn này. Nhưng cao su kinh doanh thì tỷ lệ các chất đa lượng N – P – K là (2:1:2). Các chất trung lượng CaO, MgO, SiO2, S chiếm tỷ lệ từ 5 – 7% trong phân bón, các loại vi lượng cần nhiều nhất là B, Zn, Cu, Fe…

Phân lân nung chảy Văn Điển sản xuất hoàn toàn từ quặng khoáng thiên nhiên, có tới 10 loại dinh dưỡng thiết yếu bổ sung cho đất trồng cao su Tây Nguyên. Ảnh bao bì mẫu mới. Tư liệu.

Căn cứ thực tế sản xuất của bà con, các nhà vườn trồng cao su cao sản ở Gia Lai, Kon Tum cũng như các mô hình đã thực hiện, kỹ sư Nguyễn Xuân Thự hướng dẫn kỹ thuật sử dụng phân bón Văn Điển cho cây cao su thời kỳ kinh doanh giai đoạn mùa mưa bón 2 đợt như sau:

Đợt 1: Bón đầu mùa mưa từ cuối tháng 5 đến hết tháng 6, tháng 7: Lượng bón đầu mùa mưa thường cao hơn lượng bón cuối mùa mưa để cây đầy đủ dinh dưỡng cho sản lượng mủ cao.

Nhà vườn căn cứ vào hạng đất, tuổi cây để xác định liều lượng bón cho phù hợp.

Đất hạng Ia và Ib: Cho cao su dưới 11 năm tuổi, lượng bón cho 1 ha như sau:

* Lân nung chảy Văn Điển: Lượng bón: 500 – 600kg;

* Đa yếu tố NPK 12.8.12: Lượng bón: 600 – 800kg, hoặc dùng ĐYT NPK 16.5.17: Lượng bón:400 – 500kg.

+ Đất hạng IIa, IIb:

* Lân nung chảy Văn Điển: Lượng bón: 600 – 800kg;

* Đa yếu tố NPK 12.8.12: Lượng bón: 800 – 1.000kg;

* Nếu dùng ĐYT NPK 16.5.17: Lượng bón: 500 – 600kg

+ Đất hạng III.

* Lân nung chảy Văn Điển: Lượng bón: 1.000 – 1.200kg;

* Đa yếu tố NPK 12.8.12: Lượng bón: 1.000 – 1.200kg.

Đợt 2: Bón cuối mùa mưa (tháng 10 – 11).

Lượng bón: Bà con sử dụng phân đa yếu tố NPK 12.8.12, lượng bón chung cho các hạng đất: 600 – 800kg/ha. Cao su trên 11 năm tuổi thì lượng bón tăng lên 15% cho các hạng đất.

Cách bón: Lợi dụng đất ẩm sau mưa vén lá cỏ khô, rạch đất giữa hai hàng cao su, tránh đứt rễ tơ, rải đều phân sau đó lấp đất hoặc tủ lá khô kín phân. Tốt nhất bón phân trước khi mưa hoặc bón sau mưa đất còn độ ẩm khoảng 80%.

Cây cao su được chăm bón đầy đủ, đúng cách sẽ cho dòng mủ trắng chất lượng cao.

Hiệu quả vượt trội của phân lân nung chảy Văn Điển

Theo phân tích của kỹ sư Nguyễn Xuân Thự, phân lân nung chảy Văn Điển khác biệt so với các loại phân lân khác ở chỗ:

– Bên cạnh chất lân dễ tiêu (P2O5) = 16%, lân Văn Điển còn có đến 30% vôi (CaO), cải tạo độ chua đất giúp cho cây cao su sinh trưởng tạo mủ tốt hơn;

– Có 15% chất magie (MgO) giúp cho bộ lá tăng quang hợp tổng  hợp mủ nhiều hơn.

– Có 24% chất silic (SiO2) làm cho đất tơi xốp đồng thời tạo lớp cutin dưới mặt lá hạn chế bốc hơi nước giúp cho cây chịu hạn tốt mùa khô hạn, các chất vi lượng Bo (B), Kẽm (Zn), Fe, Cu, Mn… xúc tác tạo chất mủ chất lượng cao.

Vì vậy, sau khi bón lân Văn Điển, cao su phát triển bộ rễ mạnh và được cung cấp đến 10 loại dinh dưỡng đã nêu trên.

Hiệu quả vượt trội của phân đa yếu tố (ĐYT) NPK Văn Điển

Kỹ sư Nguyễn Xuân Thự phân tích thêm: Bên cạnh cân đối ba thành phần dinh dưỡng đa lượng (N – P – K), phân đa yếu tố NPK Văn Điển có thêm 10 loại chất dinh dưỡng bao gồm (CaO, MgO, SiO2, S và 6 loại vi lượng: B, Zn, Fe, Mn, Cu, Co… Chỉ cần lấy ví dụ, có thể thấy tính ưu việt: Trong hai dòng sản phẩm ĐYT NPK 12.8.12 và ĐYT NPK 16.5.17, tổng dinh dưỡng dễ tiêu cây sử dụng trên 60% vượt trội hơn tất cả các loại phân NPK thông thường.

Bởi vậy, thật dễ hiểu khi đa số nhà vườn trồng cao su đã chọn bón phân Văn Điển vì nó mang lại lợi ích kép cho cả cây và đất. Cây khỏe mạnh, tốt bền, ít sâu bệnh, sản lượng mủ cao, chu kỳ khai thác mủ kéo dài, chất lượng mủ tốt. Còn đất trồng cao su được cải thiện giảm độ chua, tăng độ xốp cân bằng lại một số chất dinh dưỡng thiếu trầm trọng trong đất.

*) Tìm mua phân bón chất lượng cao quý khách hàng vui lòng truy cập , liên hệ theo đường link sau :

 Bảng giá sản phẩm : https://vandienfmp.vn/bang-gia-phan-bon

 Liên hệ mua hàng : Đại Lý Bán Hàng

↔ Điện thoại : 023.688.4489, 023.688.5174 Fax: 023.688.4277

 E-mail : vandienfmp@gmail.com
↔ Liên hệ fanpage công ty : https://www.facebook.com/vandienfmp.vn/
Nguồn : tapchinongthonmoi.vn

Bài viết liên quan

Công bố thông tin về ký hợp đồng kiểm toán BCTC

– Xin mời quý vị nhấn vào link sau để đọc tài liệu : CV...

Phân lân Văn Điển: Nâng giá trị cho nông sản Tây Nguyên

    Phân lân Văn Điển đã góp phần nâng cao giá trị các...

Thư mời báo giá cung cấp phân DAP Đình Vũ

– Xin mời quý vị nhấn vào link sau để đọc tài liệu : THƯ...

Thư mời báo giá đai Sling loại 2 tấn không có vách

– Xin mời quý vị nhấn vào link sau để đọc tài liệu : Thu...